Tôi hồi 20

Tôi hồi 20
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn con cóc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn con cóc. Hiển thị tất cả bài đăng

CHUYỆN TÌNH YÊU TỪ TRONG BOM ĐẠN



Nhân ngày 22/12, tôi kể về một câu chuyện dài mấy mươi năm đời người
Vào đề
Tình yêu
Cứ về Buôn Ma Thuột là tôi lại nghĩ về tình yêu. Có gì đó cồn cào, day dứt cứ chực bập bùng trong lòng, thổi lên những kí ức nồng nàn và đượm buồn, đôi lúc đắng nhẹ như vị cà phê tinh nguyên mùa nắng về trên phố núi.
Dẫu vậy, nói gì thì nói, về quê nhà tôi vẫn thích nghĩ về tình yêu, thích nghe về những câu chuyện tình yêu của những người Ban Mê. Những câu chuyện từ tứ xứ, bao giờ cũng có một chút gì đó mộc mạc và sâu đậm, cuồn cuộn đầy mê hoặc như mùi cà phê thi thoảng bay trên thành phố xây nên từ đất đỏ.
Và trong số đó, có một câu chuyện tôi được nghe vào một chiều trời mưa phùn nhẹ. Câu chuyện này không phiêu lãng, không thanh thoát. Nó đầy màu cát bụi và bom đạn, nhưng lại có sự thăng trầm và ngân nga, khiến tôi không khỏi nghĩ về mình và những lầm lỡ ngốc nghếch của một tuổi được cho là chưa trưởng thành.
Câu chuyện
Tài là một chàng trai năng nổ và nhiệt tình.  Anh có dáng người cao dỏng, mặt mày sáng sủa, trán cao vời vợi, cộng với điệu cười mỉm rất duyên, cái kiểu cười xếch xếch đôi mép, có chút ngạo đời. Lại thêm cái tính năng nổ, nhiệt tình nên Tài được lắm cô mệt mệt từ khi còn rất trẻ.
Cái tính năng nổ của Tài được bộc lộ phải nói là cực kì sớm. Anh lò mò tham gia cách mạng ngay từ khi mới 13 tuổi. Tài còn nhớ rõ đó là vào khoảng năm bốn lăm, khi anh vẫn còn là một cậu bé vừa kết thúc lớp Nhì đệ nhất, chuẩn bị chuyển sang lớp Nhì đệ nhị thì Phát xít Nhật đổ bộ vào khủng bố. Hồi đó trường anh là ngôi trường lớn nhất tỉnh Phú Yên nên bị Nhật chiếm dụng luôn làm kho vũ khí, vậy là cậu học sinh tài – như bao bạn bè khác – lâm vào cảnh mất học.
Đang học ngon lành thì bị gián đoạn vì địch, Tài căm lắm nhưng cũng chẳng biết làm sao, đành về làng làm ruộng giúp mẹ. Hồi ấy trong xã có rộ lên một lực lượng mang tên là Đoàn Thanh niên cứu quốc – tổ chức thành viên trong mặt trận Việt Minh do Đảng lãnh đạo. Các anh thanh niên và cán bộ ở Trung ương cũng về mở trường, vừa dạy lí thuyết vừa truyền bá tư tưởng cứu quốc. Cậu Tài vì tò mò nên cũng mon men tham gia, phần lớn là vì thấy thích các hoạt động phong trào, phần cũng vì mối thù đốt trường còn âm ỉ. Còn nhớ ngày ấy người ta truyền tay nhau tập thơ mấy tập thơ cách mạng với vài bức thư người cộng sản trên thế gửi về cho quê nhà. Tài thích mê tập “Từ ấy” của Tố Hữu. Những vần thơ nâng giấc mơ trở thành chiến sĩ của cậu trai từ những ngày còn rất nhỏ.
Tài Gặp Yến lần đầu năm mười sáu tuổi, khi ấy cả 2 đang cùng làm hoạt động thiếu nhi trong xã. Tài phụ mấy anh lớn công việc sổ sách, còn Yến thì là cô giáo nhỏ dạy cho lũ trẻ con trong khu dân cư viết chữ, làm toán. Cả 2 người cũng hay làm cùng nhau mấy chương trình cắm trại, liên hoan,… cho thiếu nhi trong xã. Nam thanh nữ tú lâu ngày đâm ra cảm mến nhau. Có lần Tài đi về thấy Yến đang dạy học liền chạy qua ghẹo, hỏi “anh yêu em” nó viết thế nào. Yến thẹn, đẩy Tài ra, mắng yêu “Cái cậu này kì cục”. Bị mắng mà Tài lại khoái chí, nghĩ sao mà có người cười duyên thế chứ.
Tài và Yến thân thiết được một thời gian thì 2 người chuyển công tác. Tài tham dự đội Du kích thoát ly của xã. Tính vốn năng nổ nên anh nhanh chóng được đề bạt làm tổ trưởng tổ liên trinh của đội. Được 1 năm thì đội của Tài chuyển lên thôn Liên Trì đóng quân.
May rủi thế nào nơi Tài đóng quân lại gần ngay nhà của Yến. Lúc này cô vừa đi học, vừa chăm sóc bà ngoại bị mù. Tài thấy thương nên cũng thường xuyên đến động viên. Khi thì tặng gói bánh, khi thì vài đồng bạc lẻ, lúc nghèo thì anh mang đàn qua ngâm nga hay tệ lắm thì cũng có bài thơ vụng về đem tặng. Cứ vậy một thời gian thì 2 người mến nhau. Mối tình ấy cứ quyến luyến, êm đềm, dịu dàng từng ngày làm vui cho chàng du kích trẻ.
Nhưng đất nước chiến tranh không phải là thời cho những mối tình đẹp. Năm 1949, địch tổ chức càn quét lớn vào Phú yên. Làng của Tài bị đốt cháy rụi, họ hàng chết không biết bao nhiêu người. May có nhà Tài là sống sót vì trước đó có phòng thân đào sẵn một hầm trú ẩn, tuy nơi thì nói vậy nhưng cũng bị thiệt hại nặng nề. Cả căn nhà lá mái cháy thành tro bụi. Tài đành tạm giác mối tình của mình để quay về làng phụ mẹ.

Thời chống Pháp trường kì kháng chiến có 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và phản công. Tài và Yến chia xa vào đúng thời điểm vừa kết thúc giai đoạn phòng ngự, bắt đầu chuẩn bị chuyển sang giai đoạn cẩm cự, giằng co với địch. Đảng chủ trương tăng cường cán bộ đi các hướng chiến lược, mà hướng chiến lược của khu 5 hồi đó một là Tây Nguyên, 2 là Nam Trung bộ tức là từ Khánh Hòa trở vào tới Bình Thuận, qua Lâm Đồng. Tài ngày ấy chí lớn cũng hí hoáy viết một bức thư xin được làm bộ đội, nhưng chí lớn chưa kịp gửi đi thì lại có tin mừng.
Khi đó vào khoảng tháng 9 năm 1949, Tài vẫn còn đang loay hoay chưa tìm cách thuyết phục ở trên cho đi bộ đội thì có người chú làm Bí thư ban cán sự Đảng của huyện Cheo reo thuộc tỉnh Daklak tạt qua thăm. Thấy Tài đang đan lưới sửa nhà, ông liền buột miệng hỏi: “Có muốn đi bộ đội ở Daklak chừng 2 năm không?”. Tài nghe vậy sướng quá, liền lật đật khăn gói đi theo chú lên Daklak, để lại quê nhà mối tình con con. Nghĩ chỉ  2 năm sẽ gặp lại nên cả anh cả Yến đều không suy nghĩ gì nhiều.
Nhưng nói thì nói vậy, mấy năm đầu xa nhau Tài nhớ lắm, Yến cũng vậy. 2 người khi ấy vẫn cứ thư từ thường xuyên. Được cỡ chừng 2 năm thì binh biến khốc liệt, liên lạc với nhau càng lúc càng khó khăn. Có một hôm Tài đi theo một tiểu đội 8 người băng rừng để đến điểm tập trung, Tài đi thứ 7. Đến một khúc gập ghềnh mọi người phải bước qua một thân cây to để vượt qua bãi đất. Bấy giờ chuyện địch gài mìn chìm trong rừng trở nên bình thường như cơm bữa. Tài bước qua cái khúc cây an toàn, nhưng người thứ 8 ngay sau Tài thì vấp phải mìn. Tài còn nhớ như in cảnh người đồng đội mình chỉ kịp kêu lên 2 tiếng “ôi trời” rồi bất tỉnh, ruột rà văng ra tung tóe cả. Từ dạo đó Tài cũng thôi luôn thư từ với Yến, nghĩ mình chẳng biết chết lúc nào, còn tâm trí đâu mà để yêu đương vào đầu.
Tài làm văn thư tại cơ quan văn phòng Ban cán sự Đảng tại Cheo reo. Công việc chủ yếu của anh là nhận các tài liệu mật rồi mã hóa, sau đó tùy tình hình thì lưu giữ lại chờ lệnh hoặc giao cho các cán bộ được chỉ định. Việc thì nhiều nhưng mà vui, tất thảy mọi người ai cũng hừng hực chuyên tâm vào công việc, không màng ngày đêm. Kể lại thì Tài cũng có vài kỉ niệm đáng nhớ trong quá trình hoạt động cách mạng. Có lần mấy anh đói quá vào buôn xin thức ăn, người đồng bào thương tình cho con gà. Nhưng gà rẫy thì thả chạy khắp cả xóm, người đồng bào bắt gà lại chậm hơn bên gián điệp chỉ điểm cho Pháp. Thế là bụng đói lại phải cuống cuồng trốn lính thực dân. Có bữa tình hình cấp bách anh buộc phải chôn tài liệu dưới đất để bảo toàn cơ mật, quyết có chết thì cũng chỉ chết một mình mình…

Cứ thế, Tài trưởng thành trong những năm bom đạn của đất nước. Nỗi nhớ ngày nào vẫn còn đó nhưng cứ dần vơi theo nhịp công việc và tiếng súng thực dân cứ nã bên tai hằng ngày. Rồi 4 năm thấm thoát trôi qua, trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chỉ huy quân sự quyết định xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Tài khi đó đang là Liên tổ phó thuộc Chi bộ Văn phòng, Ban cán sự Đảng huyện. Anh liền cùng với các đồng đội vận động đồng bào Tây Nguyên đứng lên chống giặc, lập được nhiều chiến công lớn cho chiến dịch Chiến cục Đông - Xuân 1953-1954.
Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ dội vang cả dân tộc, Henri Navarre đại bại. Hiệp định Geneve được kí kết. Pháp quyết định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới phân chia 2 miền Bắc Nam. Sông Bến Hải, cầu Hiền Lương đi vào lịch sử dân tộc. Tài lúc bấy giờ đã là một chàng trai 22 tuổi, cứng cáp và rắn rỏi, đi theo quân đội xuống dự lễ chiến thắng của khu 5. Xong thì đội của anh đi vào Bình Định tập kết.
Có trong mơ Tài cũng chẳng nghĩ được rằng chính tại đây anh lại gặp lại Yến, cô bạn gái ngày nào, lúc này đang đi theo quân y, làm hộ lý cho một trung đội ở gần đó. Hơn 5 năm trời xa cách vụt qua như một cái chớp mắt, 2 người gặp lại ngọt ngọt bùi bùi. Lúc bấy giờ cả 2 đều đang ở độ tuổi chín muồi của đời người, cũng bắt đầu muốn biết được cái yêu nó tròn méo ra sao. Nên thử.
Được một thời gian thì mấy anh lớn ở trên bảo cưới. Ừ thì nghe. 2 người quyết định mượn một trường tiểu học ở Bình Định làm đám cưới. Có ông anh chồng chị thứ 6 của Yến làm chủ hôn, xem như đại diện cho cả gia đình quan viên 2 họ. Đám cưới giản dị và đơn sơ lắm, chỉ có mấy nghìn đồng bạc tem phiếu, đủ mua mấy bao thuốc lá và vài gói kẹo đãi khách, vậy mà cũng được xem là hoành tráng vào cái thời buổi ấy. Ai cũng chọc câu Tài có phước. Tài cười, người ta nuôi tình cũng được 6 năm rồi chứ bộ giỡn sao, phước này anh không hưởng thì ai hưởng? Phí.
Nhưng thời đại đất nước chiến tranh, không phải là lúc con người nói chuyện gia đình. Tài hiểu, Yến cũng hiểu. Cưới nhau được chừng 1 năm thì Tài – theo chỉ đạo của tổ chức – phải giả làm người Thượng để tiến về Tây Nguyên, vừa để trinh sát, vừa để hội quân với lãnh Đạo của Đảng ở gần đó. Còn Yến thì tiếp tục ở lại quân y, hoạt động trong quân khu 5. Trước khi chia tay Tài trao cho Yến một chiếc nhẫn, run run nói: “Mình nghĩ xa nhau chỉ có 2 năm, giờ binh biến khốc liệt, 20 năm chưa chắc có ngày gặp lại. Bà nhớ bảo trọng, nếu có nghe tin dữ từ tôi thì ngay lập tức tái giá. Đừng để lỡ thì, lại phải chịu khổ một mình”. Yến cười nhẹ, bảo: “Lỡ thì thì cũng lỡ từ 2 năm trước rồi. Ông cứ tập trung mà hoạt động cách mạng. Có duyên mình sẽ gặp lại”. Buổi chia tay ấy Tài lại là người khóc nhiều, nước mắt ướt một bên vai vợ. Yến ngăn dòng nước mắt, cứ yên lặng mà dỗ dành người đàn ông của mình.

Miền Nam những năm tháng ấy cực kì khốc liệt. Pháp vẫn thường xuyên nã đạn vào các địa phương, cướp đi sinh mạng của biết bao người. Ở quê Tài cứ thi thoảng gia đình lại có dăm bảy người hi sinh. Tình hình chính trị căng thẳng, cùng thành phố với nhau thư từ đã phải thông qua kiểm duyệt gắt gao. Huống hồ vợ chồng Tài và Yến mỗi người một miền. Chẳng thể nào mà biết được tình hình của nhau thế nào, họ chỉ có thể thầm cầu nguyên cho người kia vẫn ổn, mong đến một ngày đất nước thống nhất, rồi cái duyên sẽ đưa gia đình đoàn tụ.
Tháng 7 năm 1957, Tài cùng một đồng đội nữa được chỉ định theo lệnh đơn vị hộ tống một số cán bộ ra Hà Nội hoạt động và sinh sống. Bản thân anh cũng được biên chế cho ra đó khám sức khỏe, có bênh thì chữa, sau đó học tập và bồi dưỡng chính trị, xong thì quay lại vào trong Nam phục vụ.
Thời ấy cán bộ được gửi ra Bắc có 2 diện. Một là diện công tác giống như Tài và đồng đội, còn thứ 2 là diện “có vấn đề”, được gửi ra để kiểm tra và đào tạo lại tư tưởng. Nhà đón khách cũng theo đó mà có 2 cái, một cái công khai, sạch sẽ tươm tất dành cho những cán bộ vào Nam theo diện công tác. Cái thứ 2 thì bí mật, giống như một trại tập trung quân sự kiểu cũ. Chả biết giấy tờ số má thế nào, Tài và đồng đội lại bị lẫn sang diện thứ 2. Thế là 2 anh bị dồn vào nhà đón khách mật, cùng với một số phần tử “có vấn đề” và bị bắt đi lao động công ích suốt cả ngày.
Chí trai khi ấy gặp khó không sợ nhưng bị đối xử bất công thế thì căm lắm, nhưng biết làm sao được. Được chừng nửa tháng thì đồng đội của Tài chịu không nổi, anh em mới bàn nhau xin Cán bộ cho y lên Hà Nội trình bày với chính quyền. Xin cỡ gần 1 tuần thì nghe đâu được lãnh đạo chấp thuận. Đồng đội Tài liền khăn gói trốn lên Hà Nội “đòi công bằng”, nói rằng nhất định sẽ quay lạị và tận tay giải cứu cho Tài. Chuyện anh này đi thế nào được thì Tài cũng không rõ, chỉ biết rằng mấy tháng sau thì nghe tin anh ta ở luôn Hà Nội. Còn chuyện giấy tờ thì nghe chừng không giải quyết được. Tài chỉ còn biết lắc đầu thở dài.
Cứ vậy cỡ chừng 1 tháng sau thì khu tập trung của Tài có một cuộc “tổng sàng lọc” để gửi đi đào tạo sâu hơn. Nói nôm na là chọn ra 30 đồng chí “có thể tin tưởng được” để đưa ra Bắc rèn luyện lại tư tưởng và cho học sâu hơn, sau thì giữ lại phục vụ.Tài may mắn nằm trong số 30 người đó và được theo đoàn về Hà Đông để rèn luyện.
Lúc bấy giờ cán bộ người Nam ở ngoài Bắc nghe có người trong Nam vào thì quý lắm. Thấy đoàn của Tài người đông nên cũng có mấy người lại hỏi thăm tin tức. Trong số đó bộ ấy lại có anh Vinh, anh của Yến, cũng chính là người đã làm chủ hôn cho Tài và Yến ngày trước. Anh Vinh bấy giờ là cán bộ của ban Chính trị quân đoàn 120 – tức là trung đoàn Tây Nguyên ở Tây Nghệ An, về Vinh họp quân khu 4. Biết được Tài ra Bắc anh cũng bất ngờ. Nhưng tình hình chính trị phức tạp cũng chẳng cho 2 người nói chuyện với nhau nhiều. Tài chỉ kịp hỏi vài câu sức khỏe rồi báo là mình sẽ lên Hà Đông học. Xong đâu đó thì lại phải lên xe theo đoàn đi về trường.
Yến khi ấy đang làm tại bệnh viện của Tổng cục Giao thông ở Phủ Lý, nghe chồng lên Hà Nội thì mừng lắm, mới bèn nhờ anh rể xin cho được thư từ với chồng.May thay lúc ấy người ta cứ đinh ninh cán bộ ở đây chắc chắn sẽ ở lại miền Bắc phục vụ nên mới nởi lỏng, cho phép thư từ.
Tài khi ấy đã vào trường, cũng ở gần nơi vợ công tác bèn gửi thư hẹn gặp ở một nghĩa trang có tên là Quảng Thiện, cách trường chừng 5km. Không ngờ Yến nôn được gặp quá nên đến tân trường Tài. Hôm đó Tài vừa tan học ra về thì thấy ngay vợ đứng trước cổng trường, liền chạy lại ôm chầm lấy Yến. Vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Trong trường thấy thương nên cũng sắp xếp cho Yến một chỗ ở gần trường chừng 2 đêm rồi mới bắt về lại Phủ Lý.
Có một hôm nhà trường gửi xuống một tờ giấy khảo sát, trong đó có ô đề đạt nguyện vọng. Tài tức chí liền trình bày hết hoàn cảnh của mình như sau: “Tôi là cán bộ được tổ chức chỉ định hộ tống một số cán bộ ra Bắc sinh sống, bản thân thì ở lại khám bệnh và học thêm kiến thức để quay lại vào Nam phục vụ. Chính vì vậy nên hiện tại tôi không có nguyện vọng gì. Nếu tổ chức sắp xếp cho tôi ở trong này tôi cũng chấp nhận. Nhưng lệnh của tổ chức trước đó là sắp xếp tôi vào lại trong Nam”. Nhà trường của Tài đọc được bèn gửi giấy lên chính quyền. Bộ trưởng lúc ấy ngay lập tức cho gọi Tài và người đồng đội – lúc bấy giờ đang ở Hà Nội – lên thẩm vấn. Sau đó người ta kiểm tra lại giấy tờ và xác minh đúng là Tài khai thật. Vậy là ngay ngày hôm sau bộ Quốc phòng cho xe lên tận trường đưa Tài về Hà Nội. Yến cũng được chuyển công tác về bệnh viện Bạch Mai để được gần chồng.
Tháng Giêng năm 1959, Tài và Yến có cho mình đứa con đầu lòng, đặt tên là Oanh. Cuộc sống vợ chồng yên ấm hạnh phúc. Vợ đi làm, chồng đi học. Chỉ phiền nỗi vì yếu tố bí mật nên địa điểm học của Tài bị chuyển liên tục, từ Hàng Chuối, ra Yên Phụ,… cho đến tận sân bay Gia Lâm, hơi bất tiện cho việc đi lại.
Nhưng rồi sóng gió cũng ập đến, Tài kết thúc 1 năm thử thách và phải quay lại vào Nam theo đúng chỉ thị. Lúc này anh có 2 lựa chọn, một là giả vờ “có vấn đề” để được giữ lại Hà Nội, chung sống với vợ con. Hai là theo đúng kế hoạc trở về Daklak và chấp nhận bỏ lại thủ đô gia đình của mình. Khi ấy có người còn mách nước cho Tài cách luồn lách để thanh tra không phát hiện ra. Nhưng cuối cùng thì Tài cũng phớt lờ tất cả, anh chọn đất nước, chọn lí tưởng, chon cách mạng, chọn Daklak - quê hương thứ 2 của anh, bỏ lại vợ và cô con gái đầu lòng chưa tròn một tháng tuổi.
Lần này đi Tài cố nuốt nước mắt vào trong tim nhưng Yến thì không. Làm mẹ khiến con người ta yếu đuối hơn một tẹo, không còn chai lì và bao dung như ngày trước nữa. Cô khóc và trách Tài rất rất nhiều.
Tài đi vào đúng ngày Oanh bị thủy đậu, Yến phải thức suốt đêm chăm sóc con ở bệnh viện. Lúc cái xe hộp cũ kĩ ì ạch đi ngang qua bệnh viện Bạch Mai thì trời đột nhiên mưa tầm tã. Tài mở kính xe để nước tát vào mặt mình, làm nhòa đi thứ cảm xúc mằn mặn anh đang cố kìm nén. Tài biết rằng ở xa kia là vợ và con gái của mình đang vật lộn vì bệnh tật, là 2 tình yêu anh dành nhiều hơn 2 phần trong tim. Nhưng cũng như bài thơ Từ Ấy ngày nào Tài thuộc lòng: “Anh dành cho Đảng phần nhiều…”. Tài đi vì biết có nhiều hơn 2 người đang cần anh ở cách đây hơn 1000 cây số.

Tài trở về lại Daklak, làm Ủy viên Ban chấp hành Tỉnh ủy, tiếp tục ở lại nằm vùng hoạt động tại các xã Đất Bằng, Chư Drang thuộc huyện Cheoreo – Daklak, một thời gian sau anh được đề bạt làm Bí thư tỉnh, và là thành viên thường trực của Tỉnh ủy tỉnh Daklak, trực tiếp vận động đồng bào kháng chiến chống Mỹ.
Và cuộc sống của Tài lại bị cuốn vào bom đạn, anh bắt đầu cận kề với tử thần nhiều hơn. Tài bắt đầu nằm vùng nhiều, lấy bí danh là AmaH’Oanh (Có nghĩa là cha của Oanh). Có mấy lần đồng bào phục rượu anh hòng bắt sống, Tài vẫn cố gắng giữ mình và đột phá khỏi vòng vây của quân thù. Có những lúc Tài bị chính đồng đội của mình phản bội nhưng anh vẫn thoát qua đường tơ kẽ tóc. Cứ như vậy Tài lại càng thêm cứng cáp và chai lì.
Về phần Yến, sau khi chồng ra đi. Cô gạt nước mắt gửi con sang Trung Quốc học theo tiêu chuẩn của nhà nước, khăn gói lên Hải Phòng học bổ túc y sĩ. Đến năm 1964, người ta điều động một số y sĩ vào Nam và chuyển tới những khu vực tập trung riêng. Yến có chồng ở Daklak nên khi kê khai lý lịch người ta chuyển cô về ban Dân y khu 5 thuộc Daklak.
Cùng một tỉnh nhưng Tài và Yến vẫn chưa được gặp nhau. Yến hoạt động y tế ở trên trạm hành lang, còn Tài lúc này đang là Bí thư huyện Lak, hoạt động chủ yếu ở Lak – mũi phía Nam của Tây Nguyên.
Có một lần đồng chí Ama Việt – huyện ủy trưởng của huyện Lak có việc lên trung tâm. Yến liền tranh thủ gửi chồng một cái áo len màu xanh lục. Đến lúc đó Tài mới biết vợ mình đã lên Daklak. Mắt anh cay xè. Tài cẩn thận cất chiếc áo vào trong một ngăn tủ. Tự hứa với lòng mình đợi độc lập sẽ lấy ra mặc cho vợ mừng.
Mãi đến cuối năm 1965, khi Nam Daklak và Bắc Daklak hợp nhất, Tài và Yến mới được gặp nhau ở khu 5, điểm giao giữa 2 tỉnh bị tách lìa. 2 năm trời thời 17 nay đã sắp được 20 năm. Mọi thứ đã thay đổi. Nhưng lòng người vẫn vậy. Tan rồi hợp, 2 vợ chông giờ chỉ còn đợi đất nước thống nhất, đón cái Oanh về là gia đình xem như đoàn tụ.
Mậu Thân năm 1968, Mỹ đánh úp, khiến cho phần lớn quân chủ lực của Tỉnh bị bắt và giết hại. Tổ chức trở nên loạn, Tài phải cùng anh em tái cơ cấu lại lực lượng nòng cốt, xây dựng binh lực để hòa mình vào Tổng khởi nghĩa của dân tộc, anh đành gửi vợ lại cho đồng đội coi sóc rồi chạy ra chiến trường dẫn đầu cách mạng. Thân người chiến sĩ chả biết mất đi lúc nào. Được gần 30 ngày đêm thì khởi nghĩa kết thúc. Tây Nguyên thắng, dù vẫn còn nhiều tồn đọng chưa dứt điểm. Một chiều mưa Yến đang cho con ăn thì Tài bước vào, ướt sũng nước, môi nở nụ cười, anh ôm chầm Yến vào lòng trong hạnh phúc. Tháng 6 năm ấy con trai Tài ra đời.

Cuối năm 1973. Tuấn Anh (con trai của Tài) bị ốm nặng. Yến phải một mình bế con trai mình lên Hà Nội chữa bệnh, tiện thể đón cái Oanh về nhà. Trong thời gian đó, Tài ở lại vận động người dân và các thành viên của Lực lượng chính trị chuẩn bị vũ khí và tinh thần để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền 1975.
Năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Tài dẫn đầu Lực lượng chính trị tiến vào Buôn Ma Thuột, theo chân bộ đội vận động quần chúng, kêu gọi tù hàng binh, tiếp quản các cơ sở địch tháo chạy, cứu thương, cứu sập chống cháy nổ trong thành phố,… Lực lượng chính trị của Tài đã có mặt kịp thời, góp phần không nhỏ cho chiến thắng Buôn Ma Thuột. Sau này là ở cả Huế, Đà Nẵng,…
Chiến tranh kết thúc sau bao nhiêu năm dài đằng đẵng. Cả đất nước hòa vào niềm vui đại thắng. Sau hiệp định Paris, Yến trở về cùng Oanh và Tuấn Anh. Tài cùng gia đình của mình đón ngày đất nước độc lập. Lúc này đời người cũng tự nhiên buông một tiếng thở phào. Anh nhìn gia đình mình. Vậy là tại đây, đất Buôn Mê này, anh sẽ có được giấc mơ mà mình vẫn luôn mơ từ thời niên thiếu.
Với Tài, câu chuyện tình yêu ngày nào với 20 năm ly hợp đã có một cái kết mà anh chưa bao giờ nghĩ có thể có được, cũng như anh chưa bao giờ mình sẽ sống đến ngày nhìn đất nước hòa bình. Rồi mai những đứa con của anh cũng sẽ lớn lên, chúng sẽ tự viết cho mình câu chuyện của chúng, nhưng mà nó sẽ không còn đen ngòm mùi khói bụi và đầy tang thương như anh ngày trước nữa. Và biết đâu rồi chúng nó sẽ yêu, và anh sẽ ngồi với chúng nó và nói rằng: “Bố mẹ mày đã yêu nhau trong bom đạn vậy đấy. Hãy biết quý trọng tình yêu của mình dù có bất cứ chuyện gì xảy ra” nghĩ đến đây Tài bất giác nở một nụ cười…
Kết
Ông nội tôi chầm chậm đưa điếu thuốc lên môi, thở ra một làn khói mờ rồi trầm ngâm nhìn ra ngoài đường đang lún phún mưa bay. Tôi vẫn ngồi đấy ngay từ khi câu chuyện bắt đầu, tròn xoe mắt nghe đến một chuyện tình mà chưa bao giờ tôi mường tượng ra suốt hằng ấy năm trời.
Ông và bà tôi yêu nhau năm 16 tuổi và cưới nhau năm 22. Nhưng khoảng thời gian đó là bao nhiêu biến cố. Rồi đến được với nhau xong cũng chẳng được gần nhau, cứ li rồi hợp. Tôi buột miệng hỏi tại sao ông và bà lại có thể yêu nhau sau bao năm trời xa cách như vậy. Ông lại hút thêm một hơi thuốc, nhắm mắt lại như thể nghĩ về một điều gì đó, rồi ông cười và nói: “Cái thời ấy, yêu cũng là một động lực để ta phấn đấu, để cho mình xứng đáng với người kia”.
Tôi cười xòa. Tôi không hiểu lắm ở thời ông chữ động lực nó lớn đến mức nào, nhưng tôi biết đặt lên nó đôi khi là cả sinh mạng. Ở cái thời đại này, mấy ai làm được như vậy? Vì một tình yêu thâm chí không rõ có được ngày nhìn thấy nhau mà cố gắng hết mình? Tôi nghĩ đến bản thân mình ngày trước, cũng có lúc lấy tình yêu làm động lực phấn đấu, nhưng mà có vẻ như tôi vẫn còn non nớt thật, chưa đạt được gì đã đánh mất luôn cả động lực rồi.
Tôi so sánh 2 thời  đại. Ở cái thế kỉ này, mọi thứ nhanh quá, nên xúc cảm của người  ta cũng bị dồn nén. Nhiều thứ những người luống tuổi ngày trước phải trải qua cả bao năm trời để chiêm nghiệm, ta lại chỉ cần một ngày là đã kinh qua. Hoặc chí ít là ta tự nghĩ vậy.
Có một lần ông đã nói với tôi đại ý rằng: “con người bản ngã là thích chiến tranh”, vậy nên khi hòa bình ta tự tạo chiến tranh cho cuộc sống của mình. Chính vậy nên cuộc sống cứ phức tạp thêm theo nhịp phát triển, khi mà vật chất ngày càng đầy đủ hơn thì người ta tranh đấu về tinh thần, và khi tranh đấu với người ngoài không đủ thì họ lại quay ra tranh đấu với chính người mình yêu thương nhất. Tôi có cảm giác những nỗi lo chưa hẳn đã là thật khiến cho những câu chuyện tình đôi khi mất đi cái trong sáng của nó. 
“Nhưng bao nhiêu điều ập tới từ cuộc sống như vậy mà trái tim vẫn chỉ nghĩ đến một người, dù là không gặp mặt, dù là không có những dòng thư, thậm chí đôi khi là một tin tức. Thực sự là đáng khâm phục”
Ông im lặng. Tôi cũng im lặng.
Tôi nhìn ra ngoài đường, xe cộ đang mờ dần trong mưa, rồi lại nhìn vào mắt ông. Tôi tự hỏi đôi mắt này đã nhìn thấy những điều gì. Như con đường trước mắt tôi lúc này, hẳn ông phải nhìn nó từ lúc đó chỉ còn là cây cối rậm rạp, rồi những con đường thành hình; Rồi con đường ấy cứ ngày một rộng ra, hiện đại ra; Rồi những cột đèn bọc xi măng nhìn-như-gỗ mọc dần lên; Rồi cả thành phố cứ thế lớn theo từng con đường như vậy…
Tôi nhớ đến con đường này trong mắt tôi những thuở ấu thơ, len lỏi trong ánh nằng vàng dưới cái nôi màu hồng cùng tiếng ông vang vang: “đây là đường…”, tôi nhớ cây cổ thụ to đùng trước cổng, nhớ những con đường thô sơ đôi lúc tối mịt vì điện cúp, … tôi nhớ cả những làn gạch được xây lên, rồi cái cây bị đốn, tôi nhớ về cái sạp giầy của ông anh trước cổng nhà và những mùa hè ríu rít với anh em dưới cây xoài cùng giàn hoa giấy màu hồng phấn… mọi thứ khiến lòng tôi như tan ra mỗi khi nhớ về những ngày tháng ấy. Chúng cho cuộc đời tôi đầy ắp kỉ niệm và một niềm tự hào không thể quên đối với mảnh đất này. Tôi nghĩ đến đôi mắt kia đã nhìn thấy và ghi lại còn nhiều hơn tôi gấp mười lần như vậy. Bỗng chốc tôi rùng mình vì những xúc cảm kính phục và yêu thương.
Rồi tôi ngước lên trời, giàn hoa giấy rung rinh trước gió, vài cành hoa khẽ rơi xuống mặt đất.
“Con yêu giàn hoa giấy này. Thật may là nó vẫn còn lại sau tất cả”
Ông cười. Tôi cũng cười.
Và tôi nhận ra, cái tình yêu mà tôi bị ám ảnh mỗi khi về Ban Mê không nhất thiết lúc nào cũng phải là dành cho một người con gái.
Buôn Ma Thuột 3/5/2014
Sài Gòn 22/12/2014
Hí hoáy ghi,


BLACK JACK


Chef Chang cùng 3 đứa bạn thân đi vào 1 quán Bar “người lớn”, cậu bị bảo vệ chặn lại nhưng chuyện đó chẳng phiền hà gì vì Chef Chang đã kịp rút tấm ID Card mà chĩa vào mặt lão bảo vệ mập và đen đúa. Hôm nay cậu chẳng sợ gì, bởi lẽ cậu vừa trốn ông bố ác quỷ của mình để đi vui vẻ cùng bạn bè, cho dù cuộc vui đó có thể khiến cho buổi phỏng vấn quyết định tương lai của cậu vào ngày mai không được đảm bảo. Nhưng quay lại câu lúc nãy, giờ Chef Chang chẳng sợ gì, vì hôm nay là đêm cậu chính thức bước sang tuổi 21, cậu hét vào mặt lão mập đang siết chặt nắm đấm chực gây sự: “Back Jack motherfucker!” rồi cười phá lên và tiến vào sâu trong Bar.
Đây là một đoạn trong bộ phim về tuổi trẻ tôi thích nhất: “21 and over”. Tôi nhớ rằng một đêm nào đó của tuổi 19, tôi cùng 3 đứa bạn trong cái phòng trọ ngồn ngộn rác và đầy mùi người, đã nằm chồng lên nhau trên mấy cái ghế Sopha rách rưới, phía sau là cái máy chiếu trị giá ngót nghét 40 triệu do cả đám tự kiếm được, và gào lên như điên khi điên khi cảnh cuối cùng của bộ phim vụt qua. Đó là lần duy nhất chúng tôi coi phim mà đông đủ 4 thằng.
Tôi đã từng viết về Sài Gòn những đêm không ngủ, viết về những người bạn mà tôi coi trọng hơn bất kỳ mối quan hệ tình cảm nam nữ nào, thậm chí là đôi khi còn hơn gia đình. Tuổi trẻ của tôi không lộng lẫy nhưng đầy màu sắc, đầy tiếng cười lấp lánh từ những tình bạn vô lo vô nghĩ.
Tôi thích tuổi 21, tôi đã nói điều này nhiều lần nhưng lý do thì rất nhảm nhí, đó là vì bộ phim tôi nói trên, và vì khi đó là 4 giờ sáng, thằng Đảo và thằng Huy đã hét như muốn lôi cả cái nhà trọ dậy, và 2 giây sau tôi với thằng Bảo gào lên “Đ*m!”.
Tôi vẫn thường làm nhiều thứ vì những lý do rất không-hợp-lý. Như là không hút thuốc vì một cô bạn chẳng thân lắm nói rằng cô ghét con trai hút thuốc, đi du lịch mà không có gia đình lần đầu tiên chỉ vì giận bạn gái và muốn tránh mặt, thích đeo balo vì một bạn nữ tôi từng cảm nắng nói rằng cô thích con trai đeo balo một tay màu đen, quyết định vào báo chí chỉ vì thằng bạn thân nói rằng sau này làm nghề gì cũng được, chỉ cần được đi nhiều là tao vui rồi,...
Không biết đã từ lúc nào, tôi trở nên ghét “bẫy khái niệm”. Khi những người bạn xung quanh hỏi tôi định nghĩa của một điều nhất định nào đó, tôi đều lắc đầu hoặc miễn cưỡng đưa ra một câu trả lời. Tôi không thích đưa ra khái niệm cho mọi thứ, vì tôi biết suy cho cùng không khái niệm nào la sai, chỉ có điều là trong các sự thật ta chọn thứ gì để phục vụ mục đích nào đó. Nguyên tắc này áp dụng cho tất cả mọi thứ: lòng tốt, vũ trụ, PR, sự nghiệp, niềm vui, con người, Marketing, ...
Tuổi trẻ và tình bạn cũng vậy.
Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi không có những định nghĩa riêng cho mình, nhưng “riêng” có nghĩa là đối với nhiều người, định nghĩa của tôi có thể sai.
Đơn cử về tình bạn, với tôi, bạn bè là những người đi cùng nhau trên một chặng đường nào đó nhất định trong đời, và có những chặng đường bạn chỉ có thể đi cùng một số người nhất định, những người đồng hành lúc ấy gọi là bạn thân. Nếu tình bạn là thứ đáng trân trọng, thì bạn thân là (sến một chút) thứ báu vật mà cả đời người chỉ có vài cơ hội để có được, và dù cho sau này có không còn đi chung một con đường, không còn chung câu chuyện để kể thì chỉ cần lòng vẫn hướng về nhau, tình cảm quý giá ấy vẫn sẽ còn nguyên giá trị.
Tôi đã từng có một thời sống chết với một hội chiến hữu, kiểu ngày ấy chúng tôi như “Us against the world”, có thể chơi đểu cả thế giới, nhưng với nhau thì chúng tôi 4 người như một, thậm chí tôi đã nghĩ rằng không bao giờ bọn tôi có thể cách xa nhau. Nhưng cuộc sống thay đổi, chúng tôi chẳng còn chung một câu chuyện, một thời gian dài cả nhóm không ai nói với nhau một lời nào, đó là những lúc tôi không tin vào các mối quan hệ nữa. Nhưng rồi khi có cơ hội gặp lại, tôi và đứa bạn ngồi dưới khung cửa sổ nhà cũ, vừa nói chuyện, vừa hoen hoen nước mắt, tôi mới nhận ra mọi thứ vẫn chẳng mảy may thay đổi chút nào.
Chính vì vậy, khi bất kỳ một đứa bạn nào hỏi tôi rằng: “Liệu sau này tụi mình có còn chơi với nhau hay không?”, tôi chỉ muốn đấm vào mặt tụi nó. Bạn thân, đối với tôi không phải là một thứ để đem ra nghi hoặc hay cân đo đong đếm một cách chi li và ích kỷ, giống như vậy.
Tại sao tôi lại kể chuyện bạn bè ở đây ư? Vì rất rõ ràng, tuổi 21, tôi chẳng có gì trong tay quý giá hơn gia đình và bạn bè.
Tôi đón sinh nhật 21 lần đầu tiên với nhóm bạn Đại học trong một chuyến đi nhuốm màu mệt mỏi. Nhưng cái khoảnh khắc bọn tôi lao vào phòng 2 đứa con gái đang ngủ, tốc mền lên và cười đùa như những đứa trẻ bảo tôi rằng rồi mọi thứ sẽ đẹp chỉ cần chúng tôi còn thương nhau. Đêm đó mấy đứa ngồi co ro ngay quảng trường Hồ Xuân Hương và nói những chuyện không đầu không cuối, tôi thấy dù chẳng có lời chúc nào nhưng vào lúc này có tụi nó vậy là được lắm rồi.
Đêm tôi chạm ngõ 21, tôi lang thang ở bến Bạch Đằng cùng những người đã đi cùng tôi chuyến du lịch đẹp nhất trong đời, những kẻ sĩ hợp với nhau đến lạ kỳ mà chẳng vì lý do gì. Chúng tôi chơi chán chê ở phố đi bộ rồi ngủ ở một cái nhà chờ ngay gần mặt sông. Sáng hôm ấy, tôi được nhìn đám bồ câu bay lên và mặt trời đỏ hỏn đằng sau, cả vòm trờm nhuộm màu hồng sau cánh chim. Tôi đánh thức cả bọn dậy, ngắm mặt trời và nói những điều hoa mỹ.
Đêm hôm sau, tôi dành những giờ phút cuối cùng của tuổi 20 để leo lên tầng thượng của một tòa nhà cùng đám chiến hữu ngày nào. Đêm hôm ấy phảng phất mùi bia và khói cần sa. Chúng tôi nói về ước mơ và niềm kiêu hãnh. Tôi mới nhận ra là phải 5 năm trời chơi với nhau, từng đứa mới gỡ bỏ được tất cả những rào cản của sự tự tôn để mà nói thật hết những tâm tư trong lòng mình. 5 năm để tôi có được kỉ niệm đẹp nhất thời sinh viên.
Tôi kể câu chuyện về những người bạn không để khoe khoang, mà để nói rằng tôi trân trọng tất cả những ai đã đến bên đời tôi vào những thời điểm tôi chơi vơi, bất ổn và thiếu cân bằng nhất.
Tôi không phải là một đứa dễ mở lòng, cho nên tôi sẽ không quay lưng đi với bất kỳ ai giúp tôi có thể là chính mình khi ở bên họ.
Như một đứa trẻ 21 tuổi, quây phá, ngang tàng, có thể cười hà hà vào mặt bất cứ khó khăn nào trong đời và hét lên:
“Black Jack Motherfucker!”

THẰNG TÈO


Hồi năm mình 3 tuổi, có lần mẹ hỏi mình ý nhị thế này: “Bờm chơi một mình buồn quá, hay để mẹ cho con 1 đứa em để chơi cùng nhé?”.
Suốt 3 năm cuộc đời lăn lộn sóng gió với kiếm gỗ và áo choàng siêu nhân cùng bao lần cứu thế giới, đó là lần đầu tiên có người đề cập với mình khái niệm “em”. Phải nói là mình vô cùng bỡ ngỡ. Nhưng ông trời sinh mình tư chất thông minh từ nhỏ, tiếp thu học thuật thuộc dạng vô địch nên mình đã ngay lập tức rà soát chữ “em” trong Từ điển An Nhiên toàn thư.  Chừng bốn mươi giây có lẻ thì mình nhớ ra hình ảnh cái Tí cùng xóm ôm con milu nhà nó và nói với mẹ nó rằng: “con thương em milu nhất”. Thế là theo quy tắc tam suất, nguyên lí bắc cầu, thuyết dòng điện xoay chiều của Tesla, mình hiểu phát một rằng em = milu. Vừa hay chí lớn đang tính xin mẹ mua cho con chó để bầu bạn, mình bẽn lẽn đáp: “dạ”.
Thế là cỡ gần 1 năm sau. Nhà mình không có chó nhưng lại có thêm thằng em trai.
Thằng em mình vừa sinh ra đen thui thủi, ú na ú nần. Nói về thuyết hệ sinh thái thì nó là thiên địch của thằng mình - khi ấy hãy còn đang còm cõi sau 9 tháng nã kháng sinh vì căn bệnh Lao khốn kiếp. Thằng cu Tèo dư cân, mặt mũi xấu xí, to đoành, 2 tay mình ôm không xuể, lại cui cui chính thức được ghi tên vào danh sách thừa kế tài sản gia đình, ăn bớt một phần to bự của mình. Ngày ấy còn nhớ tức khí trai mình đã chia sẻ với mẹ rằng: “Sao con milu nhà kia trắng trẻo dễ thương thế mà con này vừa đen vừa ngu thế ạ?”. Kể tới đây chắc ai cũng hiểu là mình ghét cay ghét đắng thằng này. Trong mắt mình, nó không ra một kí lô nào cả.
Thực ra nói nó không có một kí lô nào thì cũng không hẳn. Thằng em trai mình như đã trình bày khi nãy thì đẻ muộn nên bao chất dinh dưỡng của mẹ nó ngốn sạch, dẫn đến sinh ra đã thừa mỡ dư cân, to gấp rưỡi mình. Thế nên từ nhỏ đến lớn, dù mang tiếng là anh trai nhưng mình chả bao giờ ôm nó trong lòng như bao cặp anh chị em điển hình và gương mẫu khác. Nói một cách nôm na và dễ hiểu, thằng em mình là một thằng mập.
Những thằng mập thì luôn có những bộ phận hấp dẫn đặc biệt. Ở thằng em mình cũng vậy. Và thứ đầu tiên mình là má. Má nó phúng phính, mềm mềm, dù lúc ấy mình cương quyết thuyết phục bản thân là chẳng đẹp đẽ mẹ gì nhưng cái đẹp thì luôn là chân lí. Mình bị nghiện bẹo má thằng em, cho đến khi nó cũng nhận ra sự bất thường ở mình nên la ầm lên gọi mẹ. Sau nhiều lần can ngăn con trai lớn không được mẹ quyết định chửi cho mình một trận. Tình cảm anh em giữa mình và thằng Tèo cũng rạn nứt từ ngày ấy.
Thằng ôn dịch vật đó không chỉ làm mình bị mẹ mắng, mà còn có dã tâm cướp mẹ của mình. Bằng chứng là khi nó vừa sinh ra mẹ đã thải mình qua ngủ với bà nội. Xa mẹ không quen nên thời gian đầu mình nhớ lắm. Mình có xin phép mẹ cho qua ngủ cùng mẹ và thằng… em trai. Hồi ấy mình chơi khổ nhục kế nói mẹ là con ngủ dưới chân mẹ và em cũng được, cứt đái mấy con cũng chịu. Mẹ tin tưởng cho mình ngủ cùng. Thế là sáng ra mình lại lật kèo leo lên nằm ôm thằng mập đó ngủ, còn mẹ lại bị đẩy xuống giường. Được dăm ba bữa thấy mình áy náy nên mẹ lại đá mình sang ngủ với bà.
Anh em mình bắt đầu lớn lên vào những năm 2000, khi ấy miền Trung yêu thương ngập trong bão lụt. Mình học được bài học “Sống chung với lũ” thông qua báo đài và TV. Thế là mình quyết định phải nhịn nhục kẻ thù không đội trời chung này. Bởi không có cách nào loại bỏ nó được rồi. Nhưng mình tin sẽ có ngày mẹ nhận ra thằng kia không là cái đinh gì và quay lại bên mình.
Ông trời có mắt, người thành tâm ắt có ngày thành công. Năm mình học cấp 1, thằng em mình vì hen suyễn nặng nên phải gửi xuống Tuy Hòa sống với ông bà cho hết bệnh. Ngày nó đi mẹ khóc ròng ròng. Ừ thì nó đã đi khuất mắt, giờ mẹ là của mình rồi nhưng sao mình lại thấy thiếu thiếu trong lòng…
Đợt nghỉ xuân nhà mình về quên thăm ông bà và thằng em. Thằng này ở với ông bà rất sướng. Nhà ông bà mới xây lại vừa to vừa đẹp, lại cho nó hẳn một phòng để bày bừa đồ chơi. Nó còn có cả bộ sưu tập đĩa Pokemon quý, toàn tập mình chưa xem. Anh em lúc ấy lại ríu rít đi chơi với nhau, mặc cho trời nắng gắt. Nó kể cho mình chuyện nó được ăn đồ biển, đi bắt con Dong ăn ngon lắm làm mình cũng thấy ghen tị muốn chết. Bố mẹ ai cũng khen nó tự lập, mình phụng phiu tấm tức. Nghĩ rằng thằng này đi xa thế mà sướng. Ước gì bố được như mày.
Đến ngày cả nhà mình về lại Buôn Ma Thuột. Cả nhà nhất trí là lừa thằng em rằng mọi người chỉ đi tí rồi về. Đến khi chiếc xe của bố lăn bánh nó chợt hiểu ra chuyện và đuổi theo khóc ầm ĩ. Mẹ mình kìm nén nãy giờ cũng òa khóc. Mình khóc theo, nói mẹ đừng buồn, còn con mà, con cũng thương em lắm. Thế là từ đó mình quyết định sẽ thương em thật.
Thằng em mình đi được một năm thì được thả về, bệnh hen đỡ hẳn, cười toe toét. Lúc này mình lại thấy nó rất cu te. Nói chứ ngày đó có người hỏi trong nhà nó thương ai nhất. Nó toàn trả lời là “anh Bờm”. Mình lúc ấy chỉ tin một nửa. Vì nghĩ thằng này chắc chỉ nói thế để lấy lòng người lớn chứ yêu thương mẹ gì nhau. Có điều trẻ con thiếu thốn tình thương nghe vậy cũng không khỏi ấm lòng.
Ngày ấy anh em mình chơi với nhau là đỉnh cao của sự sáng tạo. Cái gì cũng phải có sờ to rì teo ling (story telling), cốt truyện đàng hoàng. Trò chơi ngày ấy được ưa chuộng nhất là “chơi đồ chơi”. Nó là partner duy nhất mình có thể hợp tác để sản xuất mấy bộ phim truyện từ mấy con robot, siêu nhân các loại. Anh em mình chia phe, chia lính, lấy mấy cái hộp bánh và các-tông cũ xây căn cứ, xây dựng cốt truyện, đặt cá tính cho nhân vật, làm nên biết bao siêu phẩm đồ chơi cho riêng 2 thằng. Ngày ấy cứ được tặng quà đồ chơi là mình và nó lại chia nhau theo tỉ lên lệ 6-4 nghiêng về nó. Mình về cơ bản là lấy hết mấy thằng nhân vật chính và đẹp, thải cho nó phần nhiều mấy đứa thường thường bậc trung. Nhưng nguyên tắc thương lượng năm ăn năm thua, có mấy lúc nó nhờ lươn lẹo lấy được “con” đẹp. Còn nhớ có lần mình viết thư từ nó vì nó không chịu chia cho mình con “Hiệp sĩ trong tay có kiếm” trong phim “Ninja bão tố”. Chả biết vì sao bức thư ấy lại rơi vào tay bố. Thế là bố đọc cho cả nhà nghe, cười ầm ĩ. Mình xấu hổ chỉ muốn đè thằng em ra làm vài phát cho bõ ghét.
Trò chơi thứ 2 được anh em mình ưu ái là “Đánh nhau”. Như đã trình bày ở trên, thằng Tèo sinh ra về cơ bản là dư cân thừa mỡ cho nên lúc nào cũng to xấp xỉ bằng mình.Vì vậy việc đánh nhau cũng trở nên khá là công bằng. Ngày ấy anh em mình chọn giường làm nơi tử chiến, vì có thể lăn lộn thoải mái mà không sợ đau. Thế là mấy cái cột mùng với mấy thanh gỗ của giường cứ lần lượt ra đi tỉ lệ thuận với cân nặng 2 đứa. Mình còn chả đếm nổi bao nhiêu lần mẹ điên tiết lên đòi đập 2 thằng một trận vì đu gãy cột giường và đập mình mình vì thằng em mặt mếu máo sướt sẹo đến mách mẹ. Anh mà, đánh nhau là phải thắng. Đó là luật bất thành văn mất rồi.
90% số sẹo trên mặt thằng em mình là do mình làm tác giả, lí do là vì “địch quá mạnh nên không thể nương tay”. Mình nhớ nhất có lần 2 anh em tập xe đạp, nó đang lao vù vù xuống dốc thì mình từ xa phóng cây kiếm gỗ về phía nó. Thanh kiếm bay theo công thức v = S : t với S là quãng đường đi được và t là thời gian bắt đầu từ lúc khởi hành, vẽ một đường cong tuyệt đẹp cắm thằng vào cái bánh xe thằng em. Thế là chiếc xe lộn nhào, thằng em cắm mặt xuống đất. Nó liền ôm cái mặt đầy máu vừa chạy vừa khóc vào mách bà, mình chạy theo gọi với: “ê đừng khóc anh cho 2 ngàn, à thôi 10 ngàn cũng được, eeee”.
Em mình là đứa có tài. Nó chơi cái gì cũng giỏi. Đặc biệt là nó có thiên bẩm về những vấn đề liên quan đến game và cờ bạc. Nhớ hồi cả đám anh em họ nội hay ngồi túm năm tụm ba ở sạp giầy trước cửa nhà, lúc thì chơi bài, lúc thì chơi cờ. Vật phẩm cá cược thì là mấy quả xoài của nhà trồng, chua lè nhưng ăn rất hấp dẫn. Mình nhớ như in cứ mỗi lần đánh bài với nó là mình tức lồng lộn lên vì bị nó xách mé: “đồ gà”. Đặc biệt cờ vua là môn mình dạy thằng em mà chưa đầy một tháng mình đã phải thề không bao giờ đụng vào bàn cờ một lần nào nữa. Đéo tin được.
Đặc biệt chơi thì chơi nhưng nó học lại cực kì ngon lành. Bởi lẽ nó khai sinh muộn để đi học trễ nên đầu óc có phát triển hơn đám cùng lứa. Thêm nữa hồi ở Tuy Hòa bà đã dạy nó biết viết chữ, làm toán rồi. Ngày ấy tất nhiên là mình ghen tị. Bởi nó đi học lúc nào cũng cầm top cầm hit. Năm cấp 1 còn mấy năm liền được nhận học sinh Tiêu Biểu. Lên cấp 2 nó học cùng trường mình. Đi đâu người ta cũng khen nó có tư chất hơn mình. Nghĩ cũng buồn nhưng dần dà lại thấy làm vui. Em giỏi hơn anh cũng không thành vấn đề. Vấn đề ở đây nó là đệ của mình, nó ngon lành thì mình hưởng ké. Tuyệt vời.
Ừ thì cứ vậy anh em mình lớn lên với nhau. Càng lớn nó càng đẹp trai, phong độ. Những ngày nhà mình có chuyện, anh em mình ôm nhau mà phấn đấu, nó khi ấy là chỗ dựa tinh thần của cả mình và mẹ. Có mấy lúc nhà cãi nhau mẹ lén khóc ở ngoài phòng khách. Mình ngủ với thằng em bò ra ngoài nghe ngóng rồi lại bần thần mò vào giường, vòng tay ôm thằng em để bị nó đạp ra phũ phàng. Nó béo béo mềm mềm làm mình cũng cảm thấy ấm áp hơn phần nào. Những năm nhà cửa lạnh lẽo thằng em trai là nguồn sáng duy nhất của mình.
Mấy năm mình đi đại học thi thoảng lại gọi về nói chuyện với thằng em. Lần nào cũng có cái cười lăn cười bò. Cũng được một đợt mình được mấy thầy cô cũ khen, nó về tường thuật lại với mẹ và kêu rất tự hào về mình, rằng “anh Bờm Vip thật”. Tất nhiên mình nghe qua lời mẹ thì đã có chế biến lại rồi nhưng không khỏi mừng thầm trong lòng.
Em mình giờ vào chuyên Nguyễn Du học, văn nghệ văn gừng đủ cả, bồ bịch thì chắc cũng qua vài đời. Nói chung về khí chất thì nó ăn đứt mình một cây. Đám bạn mình đứa nào cũng kêu thằng này tiếp thu tinh hoa của bọn anh nên giờ thành ra thế. Nhưng gì thì gì nó vẫn phải nể mình. Nghĩ đến đây mình cũng thấy tự hào.
Em trai mình tên đầy đủ là Tô Phạm An Hòa. Đây là tên ông ngoại đặt cho nó trước lúc qua đời. Ông mất lúc mẹ mang thai An Hòa, ngày ấy ông chỉ có mong ước lớn nhất là được nhìn mặt cháu nhưng không thành. Mình không hiểu lắm ý nghĩa của 2 chữ “An Hòa” nhưng mình tin nó cũng giống như tên mình, có một sự bình an và viên mãn. Còn nhớ lúc sinh thành, con cháu trong nhà ông thương mình nhất. Thế nên giờ mình thương thằng em chắc cũng do nhân quả luân hồi.
An Hòa năm nay 17 tuổi, em là niềm tự hào của cả gia đình. Năm 17 anh đi khắp nơi, tuổi 17 là tuổi anh phá bỏ mọi giới hạn của tuổi trẻ, đạt được những thành công đầu tiên trong đời. Anh không yêu cầu em phải làm như anh hay như bất kì ai khác. Chỉ cần luôn nhớ: 17 tuổi em có thể làm mọi thứ, nhưng đã đến lúc mình nghĩ về tương lai. Đại học trước mắt là con đường dài và nặng âu lo. Mẹ vẫn đang oằn mình nuôi anh em ăn học. Luôn nhớ làm sao để chọn được cho mình những bước đi đầu tiên thật vững vàng. Nhớ đừng bao giờ ghét những gì mình đạt được, nhớ luôn sống hết mình với thời học sinh, nhớ tìm cho mình những người bạn tuyệt vời nhất, nhớ yêu và nhớ hạn chế chửi thề trước mặt mẹ. Lời dặn cuối đi kèm với một cú đấm.
Chúc em trai anh tuổi 17 tự do, thành công và luôn có nhiều niềm vui. Chúc mày một sinh nhật vui vẻ. 17 năm nay mày làm anh rất điên đầu. Cảm ơn.

SÀI GÒN SÀI GÒN


Đây là tên bài hát truyền thống của khoa tôi vào mùa đón tân sinh viên. Đợt Tết lên đây tôi đã ngâm nga bài này, ngọng nghịu và chệch nhịp như một lời chào đối với thành phố trẻ.
Tôi ở Sài Gòn tính đến nay đã được một năm rưỡi. Từng chút một tôi có cảm giác mình bắt đầu trở thành một thanh niên xì phố, bắt đầu quen với cái nóng nực như điên buổi ban trưa, bắt đầu quen với đời sống sinh viên dành dụm từng đồng từng cắc, với dòng xe nghìn nghịt trong hơi nóng bốc lên cuộn lấy cả không gian buổi tan tầm. Tôi bắt đầu nghĩ thoáng như người Sài Gòn, bắt đầu ăn mặc đĩ như trai thành phố, bắt đầu tham gia vào những buổi tiệc xa hoa, bắt đầu nhịp sống và làm việc không ngừng nghỉ, và bắt đầu có được những phút giây lãng mạn đậm chất Sài Gòn.
Còn nhớ ngày biết mình phải lên Sài Gòn học, tôi đã rất sợ. Bởi lẽ Sài Gòn trong tôi khi ấy là sự kẻ chợ và hỗn độn. Tôi có những người bạn đi lên thành phố lập nghiệp và rồi chẳng bao giờ quay lại. Lời đồn về sự gục ngã của họ trước những cạm bẫy cứ lan truyền khắp những bàn nhậu, quán xá ở quê tôi. Tôi đem nỗi lo của mình kể với bố. Ông nói: “Ở đâu cũng là nhà nếu con tìm được những người mà con yêu quý. Một người đàn ông sẽ nhìn ra sự lãng mạn từ trong những xô bồ hỗn tạp của Sài Gòn”. Lời của bố đến giờ tôi mới bắt đầu hiểu được.
Có người nói rằng Sài Gòn mà tôi biết hiện giờ không hẳn là Sài Gòn. Lịch sử nói  rằng chỉ ở khoảng quận Nhất quanh nhà thờ Đức Bà, kéo dài tới đường hoa Nguyễn Huệ, chợ Bến Thành người ta mới gọi là Sài Gòn, những nơi khác là địa phận thuộc về tỉnh lị Gia Định. Giả dụ bạn bắt xe ôm ở những quận khác trong thành phố và nói: “Cho cháu đến Sài Gòn” thì bạn sẽ được chở về nhà thờ Đức Bà, về đường Nguyễn Huệ, về những cung đường xa hoa và sầm uất.
Tôi chưa bao giờ thử làm điều này. Nhưng câu chuyện kì lạ kia khiến tôi có một cái nhìn trìu mến hơn với 2 chữ “Sài Gòn”. Tạm quên đi những câu chuyện về lọc lừa, tạm quên đi những trưa hè oi ả, tạm quên khung cảnh ồn ào đến phát điên và những anh giao thông mình vàng bụng ỏng, tôi bắt đầu tạo cho mình thói quen lân la ở cà phê Bệt, chạy xe bon bon ở những cung đường rộng lớn, ngắm nhìn Sài Thành hoa lệ ngợp cả tầm mắt với đầy những đèn hoa. Rồi tôi bắt đầu ngân nga những câu ca rất Sài Gòn, bắt đầu nhận ra những bóng dáng nhỏ bé lẩn khuất phía sau những tòa nhà lộng lẫy, bắt đầu nhận ra nhịp sống Sài Gòn vẫn không ngừng chạy, dẫu là trong những buổi bình lặng hiếm hoi như vậy.
Với tôi, Sài Gòn là một người bạn của thời sinh viên. Có tất bật, có lo toan, có những giấc mơ bay, có cơm áo gạo tiền. Sài Gòn san sẻ nỗi cô đơn những đêm bùng lên nỗi buồn thành thị. Sài Gòn thay đổi con người bằng những lời khuyên của người thành phố, không phải lúc nào cũng chân thành nhưng không hẳn là sai. Nhưng Sài Gòn không đủ thời gian để hiểu điều tôi muốn, không đủ không gian để tôi nhìn vào trái tim mình. Khi mệt mỏi người ta bỏ nó đi tìm một khoảng trời xanh mướt mát của biển, của núi đồi, của những cánh đồng bát ngát để quên đi những bon chen ồn ã. Người ta muốn tìm về quê hương.
Rồi khi ta sẵn sàng thì Sài Gòn vẫn chờ mình ở đó. Khóc, cười, mơ và chia sẻ những câu chuyện vô thưởng vô phạt. Một người bạn để cùng nhau vươn lên, chia sẻ những chuyện buồn thường nhật. Có những lúc cãi vã mệt mỏi đâm ra ghét nhau không buồn nhìn mặt, nhưng lúc cô đơn nhất cũng đành vô thức tìm đến nhau, lúc buồn chán lại trà đá bia hơi nói tầm phào cho quên sầu.
Tôi bắt đầu nghĩ rồi biết đâu một ngày, tôi thật sự trở thành một phần của thành phố này. Thầy tôi có nói: “Trở về quê là để đối diện với chính mình, còn lên thành phố là để đối diện với cả thế giới”. Sài Gòn lớn nhưng nhỏ. Rồi sẽ có lúc tôi đi đến một nơi nào rất xa và nhìn lại về Sài Gòn như một thị trấn nhỏ bé, gói gọn trong những cung đường quận Nhất, quanh nhà thờ Đức Bà, đường hoa Nguyễn Huệ và chợ Bến Thành.
Bằng cách nào đó, Sài Gòn đang nuôi dưỡng cho tôi những mối quan hệ mới, những người bạn mới và những giấc mơ mới. Rồi sẽ có ngày tôi nhớ đến nơi này như nhớ một quê hương thứ 2 của mình.Vậy nên dần dà tôi không còn ghét cái không gian oi ả và ngột ngạt này nữa, và sống như thể nó là một phần cuộc sống của mình.
Sài Gòn là bạn. Xin đừng quên nhau.

VÔ CẢM


Phải chăng con người đang dần trở nên vô cảm?

Đây là đề bài của một cuộc thi mà tôi bỏ lỡ.
Cuộc sống thế kỉ 21 nhanh đến chóng mặt, con người sống như đang chơi một môn thể thao tốc độ, chẳng bao giờ dừng lại khi mà chưa đến đích, mà đích ở đây gần như là không có nếu lấy thước đo là sự thỏa mãn của lòng người. Có một luật bất thành văn rằng nếu bạn cứ ở yên một chỗ thì chính cuộc sống sẽ bỏ bạn lại sau lưng
Quá trình liên tục ấy khiến cho con người đôi khi quên đi những điều quan trọng trong cuộc sống, người ta bỏ lơ những mảnh đời vất vưởng bên lề cuộc đời, người ta quên đi những tai nạn thương tâm và chỉ tập trung vào những câu chuyện của bản thân, người ta thấy những cái hào nhoáng trước mặt nhiều hơn là những vấn đề đang lẩn vẩn xung quanh mình.
Belo Horizonte tháng 7 năm 2014, cả thế giới hướng con mắt về giải bóng đá lớn nhất hành tinh, người ta khóc thương cho danh thủ Neymar bị chấn thương ở cột sống, thậm chí nguyền rủa gã hậu vê Zuniga xấu tính đã làm anh chấn thương. Cả giới truyền thông đổ đồn vào một người đang sống và lờ tịt đi 2 mạng người mới bị tước đi trong một vụ sập cầu ở chính tại Belo Horizonte, kéo theo 19 người bị thương và hàng loạt công trình bị ảnh hưởng.
Đó chỉ là một ví dụ rất nhỏ cho việc con người dễ bỏ quên những vấn đề quan trọng trong cuộc sống. Ngày nay, ta phải cay đắng thừa nhận rằng một cô ca sĩ lộ nội y còn được quan tâm hơn nhiều một mạng người chết do tai nạn. Báo chí hàng ngày đăng tải những chuyện chẳng ai dám tin. Lâu dần con người xem những vấn đề về sinh mạng, danh dự, và nhân phẩm chỉ thành chuyện bình thường, không cần để ý. Như chuyện công viên nước Tây Hồ ở Hà Nội, không ít người quay ra chỉ trích những cô gái nạn nhân của vụ tạt nước rằng tại sao lại không tự bảo vệ bản thân mình, dễ dãi, hở hang, bị như vậy là đáng? Rõ ràng những hành vi xâm phạm thân thể đã dần trở nên quá bình thường với một bộ phận xã hội.
Thêm vào đó, Internet lên ngôi ban tặng cho chúng ta một thứ quyền lợi vượt trội, quyền lợi dân sự. Ở đó, con người tự do nêu quan điểm của mình, tự do lăng nhục, bêu rếu người khác mà không phải gặp bất cứ chế tài nào. Và rồi con người bắt đầu bị cuốn vào những tranh cãi về cái tôi mà quên đi những vấn đề đôi khi mang tính mấu chốt. Như ở một confession về nỗi buồn và sự đau đớn về nhu cầu tính dục của một bạn nữ trên fanpage Cái Hố Đen (Một dự án confess về nỗi buồn xuất phát từ Tumblr), comment được like nhiều nhất, nằm trên top là một câu vỏn vẹn 4 chữ: “đ.c.m.e”. Một số người, thậm chí không quan tâm đến lòng tự tôn và nỗi đau của người khác. Xã hội ngày nay đang bị tha hóa về giá trị, đặc biệt là giá trị cộng đồng.
Nhưng tôi không tin rằng con người đang trở nên vô cảm.
Bởi lẽ, vẫn còn rất nhiều người đang cố gắng để sống tốt đẹp hơn thì tôi tin con người vẫn còn cảm xúc. Bên cạnh những nhận định vô cảm và sai lầm tôi vẫn thấy những người đứng lên bảo vệ nhân quyền và dân quyền. Tôi vẫn thấy những bạn trẻ hoạt động hết mình vì cộng đồng, những chương trình từ thiện hướng tới những giá trị của con người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, và thế giới thứ 3 vẫn được sự ủng hộ từ phía đông đảo xã hội, những con người nghị lực vẫn xuất hiện ở mọi quốc gia và làm rung động con người. Những tiêu cực trong suy nghĩ chỉ là một bộ phận nhỏ, và đôi khi nó xuất phát từ những vấn đề ở bên ngoài xã hội, nhưng tôi tin trong bản ngã mỗi con người vẫn luôn tồn tại những điều tốt đẹp.
Trong vụ động đất ở Nepal, cả thế giới hướng về một quốc gia nhỏ bé, người ta vẫn chờ đợi từng ngày từng giờ để nghe thông tin về những người còn sống, những gói viện trợ được gửi đến Nepal không chỉ từ các chính phủ mà còn từ những người dân hảo tâm từ khắp thế giới. Và không ở đâu xa, ngay trước Tết Nguyên Đán 2015, tôi đã thấy được những tấm lòng của con người vẫn còn thông qua những bình luận trên các trang báo dành cho vụ giải cứu những người công nhân bị mắc kẹt trong vụ sập hầm Đạ Dâng – Đạ Chomo. Tôi đã thấy những giọt nước mắt dành cho những người không hề có sự liên quan nào với nhau, thấy những dòng động viên và chúc mừng cho sự an toàn của những con người may mắn, “thật là một món quà ý nghĩa nhất dịp Tết đến Xuân về” là điều mà hầu hết các trang báo mạng đều đăng tải lúc ấy, và bạn vẫn tin rằng chúng ta vô cảm ư?
Trên những chuyến đi của mình ở nhiều nơi trên đất nước này, tôi vẫn luôn tìm thấy những điều tươi đẹp trong lòng người ở bất cứ nơi đâu. Có người sẵn sàng bỏ cả gia tài để nuôi những trẻ em bị xương thủy tinh, có người dành cuộc đời mình đi lượm những bào thai bị bỏ đi để chôn cất, có những tình yêu vượt lên số phận, và bản thân việc những người bản địa vì thương một cậu thanh niên đêm hôm không tiền, không nhà mà cho ở nhờ miễn phí cũng đã là một bằng chứng bất di bất dịch cho những điều tốt đẹp của lòng người.
Con người càng lúc càng có nhiều vấn đề, và đôi khi sự vô cảm diễn ra như một hệ lụy. Nhưng tôi tin rằng con người bản chất vẫn luôn có sự rung động. Chỉ cần đúng thời điểm, những điều kì diệu xảy ra, và tình cảm giữa người với người sẽ luôn là thứ cao đẹp nhất có thể có ở trên đời.

SÀI GÒN MÙA YÊU


Sài Gòn dường như đang thành tủ ngâm cho những trái tim vào mùa. 
Từng có một bài hát của anh ca sĩ hết thời nọ nói đại ý rằng: “không bao giờ có thể giấu được việc mình yêu một người”. Theo mình thì điều này đa phần là đúng. Khi yêu, con người ta tựu chung lại là thay đổi. Con gái thì quần áo xúng xính, gương mặt ửng hồng, cử chỉ khẽ khàng. Con trai thì cũng ăn diện thêm chút, phong thái hiên ngang, sáng dậy vươn vai thấy có nhiều thứ “cứng” không sao giải thích được. Nói chung, vì nhiều lý do khác và tôi cũng chả giải thích được, biểu hiện khi yêu lại trùng hợp với biểu hiện khi trời… trở lạnh.

Sài Gòn vào mùa áo ấm. 18 độ được coi là con số kỉ lục suốt 4 năm trời. Những con phố nóng ran lúc ban trưa về đêm lại lạnh lẽo và trống trải. Tản sáng những lọn gió buốt chạy loạn xạ trên đầu da thịt. Những người ngày thường quen với cái nóng và ăn mặc phong phanh cứ mỗi khi gió lùa vào là lại rít qua kẽ răng đờ mờ phải chi mình mặc áo ấm. Có vài kẻ cơ địa không quen đâm ra hâm hấp sốt rồi sù sụ ho khan. Những lúc thế này về căn bản trái tim yếu đuối hơn ngày thường. Người ta dễ nhớ đến những vòng tay, những cười nói trượt dài trên miền kí ức, người ta thèm một nụ hôn ngọt và sâu, một chút mơn trớn trên đầu da thịt, tiếng cười khẽ khàng trong tiếng thở, người ta muốn nghe một câu thần chú abracadabra trong một cái ôm sát : “em thương anh nhiều lắm”, kéo theo đó là một cơn rùng mình từ những hơi thở phả vào vành tai.

Sài Gòn mùa chia ly. Chẳng hiểu sao những chuyến đi xa lại thường bắt đầu vào dịp năm mới. Khởi đầu mới của một con người có thể sẽ là kết thúc cho một mối quan hệ. Thống kê bảo rằng nhiều câu chuyện sẽ kết thúc vào 3 tháng đầu xuân, dù về nguyên tắc mùa xuân là mùa cho tình yêu nảy nở. Hơn phân nửa trong chúng ta nói rằng khoảng cách thường là dấu chấm hết cho những yêu thương. Chính vì vậy mùa này những người sắp xa nhau dễ rơi vào bất ổn. Có những người cố gắng níu lại những kỉ niệm đẹp nhất trước khi vẫy tay từ biệt, có nhiều người làm mọi cách để xóa đi những thứ ngổn ngang trong lòng, có những cái ôm trong sự vùng vằng và nước mắt, có những phút thẫn thờ người ta tự hỏi rằng điều gì là quan trọng hơn tất cả. Và rồi họ sợ, họ mau nước mắt trước những bài hát chia ly vẫn vô ý mở khắp các cà phê quán xá, họ nghĩ nhiều về những thứ không rõ ràng ở tương lai, họ hoài nghi với cả thực tại của mình. Nhưng như một lẽ thường tình, dù cần nó, dù ghét nó, dù níu giữ nó hay cố gắng chối bỏ nó, thì người ta vẫn nghĩ nhiều về nó nhất. Càng chia ly, người ta càng nghĩ nhiều về tình yêu.

Sài Gòn mùa nổi loạn. Bắt đầu từ dấu mốc 31/12 là hàng loạt những dịp để người ta liên hoan, tiệc tùng. Kể ra là: đón năm mới, chào năm học mới, vào quý mới, khai trương dự án mới, rồi kỉ niệm tiết học cuối cùng, tất niên, chia tay, gặp mặt, liên hoan,… nói chung là đủ kiểu. Sài Gòn càng gần Tết thì sống càng vội. Người ta quay cuồng với KPIs, với báo cáo cuối năm, với Deadlines ngập đầu, và với sự cô đơn thời tiết cùng nỗi đau chia ly có đề cập ở trên. Vậy nên người ta tìm đủ cách để xả stress. Và trong cơn say cùng nhiều nỗi u uất, người ta dễ hạ thấp sự phòng thủ của mình, để rồi bị lầm lạc bởi cảm xúc, vô tình tìm đến vòng tay xa lạ nào đó và những tưởng những khoảng trống trong lòng được vùi lấp đi. Tỉnh dậy, lại ráo hoảnh nhìn thấy lồng ngực sao còn trống trải hơn trước. Rồi lại bất lực khi nghĩ về tình yêu. Lại cô độc hơn trong những đêm một mình chạy về nhà sau bộn bề công việc giữa một Sài Gòn đang hanh hao kì lạ.

Sài Gòn mùa cho người thân, bè bạn. Hẳn nhiên rồi, năm hết Tết đến ai cũng muốn dành thời gian cho gia đình mình hoặc bè bạn chí cốt tâm giao. Năm cũ qua năm mới đến kích thích người ta muốn nói ra nhiều điều cho xong nợ lòng. Mà bạn bè hay gia đình với nhau một chặp thì kiểu đéo gì chẳng nói đến tình yêu. Và hệ quả là vài đứa sẽ bị ám ảnh. Như mình là một ví dụ. 

Bài đăng phổ biến